Ung thư
buồng trứng được coi là một "sát thủ giấu mặt" lấy đi mạng sống của
không ít phụ nữ.
Viện Ung
thư Quốc gia Mỹ (NCI: National Cancer Institute) ước tính 22.280 phụ nữ Mỹ được
chẩn đoán ung thư buồng trứng trong năm 2013, và 15.500 phụ nữ chết vì căn bệnh
này.
Những con số
Ung thư
buồng trứng thường được chẩn đoán ở phụ nữ da trắng cao hơn so với phụ nữ thuộc
các chủng tộc khác. Tại Mỹ, có 13,4 trường hợp trong 100.000 phụ nữ da trắng được
chẩn đoán mắc UTBT hàng năm, 11,3 trường hợp trên 100.000 phụ nữ Tây Ban Nha,
và 9,8 trường hợp trên 100.000 phụ nữ da đen hoặc châu Á.
Tỷ lệ sống
5 năm khi mắc ung thư buồng trứng là 43,7 %, nhưng tỷ lệ sống rất khác nhau tùy
thuộc vào giai đoạn mà một người phụ nữ được chẩn đoán. Theo NCI, 91,5 % bệnh
nhân được chẩn đoán bệnh trước khi ung thư lan ra sẽ sống thêm được ít nhất là
5 năm, trong khi chỉ có 26,9% những người được chẩn đoán sau khi ung thư đã lan
đến các bộ phận khác trong cơ thể tồn tại được 5 năm.
Yếu tố nguy cơ ung thư buồng trứng
Theo
NCI, các yếu tố nguy cơ lớn nhất cho phát triển ung thư buồng trứng là tiền sử
gia đình. Phụ nữ sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng gấp
ba lần nếu họ có chị em/ mẹ/ hay con gái gặp vấn đề với ung thư buồng trứng.
Một lý
do khiến nguy cơ UTBT có cơ hội di truyền trong gia đình là một số gia đình có
thể bị biến đổi phiên bản của gen BRCA1 và BRCA2. Những đột biến này làm tăng
nguy cơ ung thư buồng trứng của một người phụ nữ: 15-40% phụ nữ có một gen
BRCA1 hoặc BRCA2 đột biến sẽ được chẩn đoán ung thư buồng trứng trong cuộc đời
họ, trong khi đó chỉ 1,4% phụ nữ trong dân số nói chung sẽ được chẩn đoán là
UTBT. Phụ nữ có đột biến BRCA1 hoặc BRCA2 thường phát triển ung thư buồng trứng
trước tuổi 50.
Tuy
nhiên, vẫn còn 85 đến 90% trường hợp ung thư buồng trứng không có liên kết di
truyền rõ ràng.
Thuốc kiểm
soát sinh, liệu pháp thay thế hormone sau khi mãn kinh, và béo phì cũng có liên
quan với nguy cơ gia tăng của bệnh. Nhìn chung, nguy cơ bệnh tật của một người
phụ nữ gia tăng theo tuổi tác.
Rụng trứng
và ung thư buồng trứng
Nguy cơ
ung thư buồng trứng ở nữ giới dường như tăng lên so với số lượng trứng rụng.
Trong quá trình rụng trứng, một trứng được giải phóng từ buồng trứng và bị cuốn
vào ống dẫn trứng - và nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các chất lỏng thoát ra
từ buồng trứng cùng với trứng chứa yếu tố tăng trưởng và các phân tử khác gây tổn
hại DNA của các tế bào ống dẫn trứng gần đó, Tiến sĩ Ronny Drapkin, một trợ lý
giáo sư bệnh lý học tại Trường Y Harvard cho biết.
Hơn nữa,
bằng chứng cho thấy bệnh ung thư buồng trứng nguy hiểm, được gọi là ung thư huyết
thanh cao cấp, thực sự bắt đầu khi các tế bào ở đầu của ống dẫn trứng , không tế
bào trong buồng trứng tự biến thành ung thư.
Những
phát hiện này giải thích các quan sát lâu nay rằng bất cứ điều gì làm giảm số lần
rụng trứng của người phụ nữ cũng làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng của họ,
Drapkin nói. Mang thai, cho con bú và thuốc kiểm soát sinh tạm thời đình chỉ tất
cả các rụng trứng, và các nghiên cứu đã chứng minh được mối quan hệ của tất cả
những yếu tố ấy giúp giảm nguy cơ ung thư buồng trứng như thế nào.
Triệu chứng của ung thư buồng trứng
Một
trong những lý do ung thư buồng trứng rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu là những
triệu chứng phổ biến của nó gần tương tự như khi bạn gặp các vấn để về tiêu
hóa.
Dưới đây là một số triệu chứng của ung thư buồng
trứng:
- Chướng
bụng, đầy hơi
- Khó chịu
hoặc đau vùng chậu
- Khó
tiêu dai dẳng, xì hơi hoặc buồn nôn
- Thay đổi
thói quen đi tiêu, chẳng hạn như táo bón hoặc nhu cầu thường xuyên đi tiểu
- Chán
ăn hoặc nhanh chóng cảm thấy no
- Tăng
chu vi bụng hoặc quần áo bỗng chật hơn ở xung quanh vòng eo của bạn
Trong một
nghiên cứu, xuất bản năm 2004 trong Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ, các nhà
nghiên cứu so sánh phụ nữ đến thăm một phòng khám y tế không có ung thư buồng
trứng với những người đã mắc.
Họ nhận
thấy rằng sự kết hợp của đau bụng, đau vùng chậu, đầy hơi, táo bón và tăng kích
thước vòng bụng thì nghiêm khắc hơn đáng kể ở những phụ nữ bị ung thư buồng trứng.
Ví dụ, 43% phụ nữ bị ung thư buồng trứng đã có một sự kết hợp của đầy hơi, tăng
kích thước vòng bụng và các triệu chứng tiết niệu, nhưng chỉ có 8% phụ nữ không
có những triệu chứng ung thư.
Xét nghiệm sàng lọc
Xét nghiệm
sàng lọc đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc phát hiện ung thư buồng
trứng. Khám phụ khoa kiểm tra vùng khung chậu được thực hiện bởi các bác sĩ có
thể bao gồm kiểm tra buồng trứng, nhưng chúng thường không nắm bắt các khối u
cho đến khi chúng đã phát triển lớn hơn.
Siêu âm
qua ngả âm đạo, và các xét nghiệm máu đo mức độ của một phân tử được gọi là
CA-125 đã được thử nghiệm.
Tuy
nhiên, xét nghiệm này không phải là luôn chính xác và không đầy đủ cho chẩn
đoán ung thư buồng trứng vì nó cũng tăng lên trong các bệnh lý không phải ung
thư, chẳng hạn như bệnh lạc nội mạc tử cung và viêm ruột thừa. Ngoài ra, chụp
X-quang hay quét CT, quét MRI cũng giúp tìm ra những dấu hiệu của bệnh ung thư ở
các khu vực khác của cơ thể.
Nhưng so
với tất cả thì phẫu thuật hoặc sinh thiết vẫn là thao tác cần thiết nhất giúp
chẩn đoán tốt nhất các tế bào phát triển bất thường có phải là do ung thư có
nguồn gốc từ buồng trứng hay không.
Theo
Afamily

Post a Comment