Nhiều
bà mẹ vui mừng khi thấy bụng mình to vì cứ nghĩ thai nhi khỏe mạnh,
nặng ký. Tuy nhiên, bụng to có thể là dấu hiệu báo bị thai trứng
hoặc thai đa ối.
Thai trứng: nguy cơ sẽ tiến triển thành ung thư
nhau
Thai trứng
thường được phát hiện trong ba tháng đầu thai kỳ. Khi mang thai, mỗi gai nhau
đều có tổ chức mô liên kết và mao mạch để dẫn máu nuôi dưỡng thai,
xung quanh các mạch máu là lớp tế bào nuôi và hội bào.
Thai trứng
là tình trạng thoái nước của các gai nhau: lớp tế bào nuôi và hội bào
tăng sản hoặc loạn sản, mô liên kết và mạch máu không còn nữa sẽ biến thành
những bọc nước. Bình thường, khoảng 80% thai trứng sẽ khỏi sau khi nạo
lấy hết trứng, tuy nhiên 20% trường hợp thai trứng có thể tiến triển
thành thai trứng xâm lấn tại tử cung hay ung thư nhau. Các tế bào ung thư có thể
theo mạch máu di căn đến âm đạo, phổi, các cơ quan vùng chậu hay gan,
não. “Một khi bệnh thành ung thư, nếu phát hiện muộn, việc điều trị sẽ tốn
kém, đôi khi dẫn đến tử vong” – PGS-TS Lê Hồng Cẩm – Phó chủ nhiệm bộ
môn sản, ĐH Y Dược TP.HCM cho biết.
Những
người có tiền sử thai trứng có nguy cơ bị thai trứng tái phát cao gấp
10-20 lần người có thai bình thường. Nếu bị thai trứng hai lần, nguy cơ bị
tái phát gấp 40 lần. Hoặc những người có chế độ dinh dưỡng kém (thiếu
carotene, axit folic, vitamin A), phụ nữ lớn tuổi khi có thai sẽ có nguy
cơ cao hơn các đối tượng khác. Nếu người mẹ lớn hơn 35 tuổi, nguy cơ gấp
hai, trên 40 tuổi nguy cơ bị thai trứng gấp mười lần so với phụ nữ trong độ tuổi
từ 25- 35.
Bệnh
không có dấu hiệu báo trước. Ngày nay nhờ sự tiến bộ của y học, thai trứng
có thể được phát hiện sớm khi đi khám thai định kỳ trước khi có triệu chứng bất
thường. Nếu còn ở giai đoạn thai trứng, sẽ chảy máu âm đạo bất
thường, bụng to nhanh và lớn hơn nhiều so với tuổi thai, nghén nặng,
chân phù nề sớm. Nhưng nếu chuyển thành ung thư thì ngoài các triệu
chứng trên còn kèm các triệu chứng ở phổi như ho nhiều, ho ra máu, co
giật do di căn lên não, hoặc chảy máu trong bụng.
Theo
PGS-TS Lê Hồng Cẩm, do tỷ lệ biến thành ung thư nhau thai hay thai trứng
xâm lấn khoảng 20% nên những bệnh nhân bị thai trứng cần được hút nạo càng
sớm càng tốt. Muốn vậy, thai phụ nên đi khám thai định kỳ để phát hiện bệnh.
Nếu bị thai trứng, sau khi hút nạo, bệnh nhân nên được theo dõi ít nhất
6-12 tháng, trong thời gian này người bệnh nên ngừa thai. Nếu đã đủ hai con,
người phụ nữ nên dùng biện pháp ngừa thai hiệu quả, không nên sinh con khi lớn
tuổi.
Thai đa ối: nhiều biến chứng nguy hiểm
Bình
thường lượng nước ối khoảng 500 – 1.000ml. Từ 1.000 – 2.000ml gọi là dư
ối, nhưng khi nước ối vượt quá 2.000ml được gọi là đa ối. Đây là sự
sản xuất quá mức nước ối hoặc do rối loạn hấp thu của nước ối.
Nguyên nhân có thể từ mẹ hoặc thai nhi.
Nếu
người mẹ mắc bệnh tiểu đường mà không được điều trị hiệu quả, khi
mang thai dễ gặp tình trạng đa ối. Mẹ bị nhiễm trùng như giang mai, nhiễm
toxoplasmose, nhiễm vi rút như cytomegalovirus; hoặc người mẹ bị bất đồng
nhóm máu mẹ con, mẹ bị cao huyết áp do thai gây nên tiền sản giật – sản giật…
cũng làm tăng tình trạng đa ối.
Thai nhi
sẽ nuốt nước ối, lọc qua thận của mình và bài tiết ra ngoài giống
như nước tiểu; rồi lại tiếp tục lặp lại chu kỳ. Nhưng khi thai nhi
bất thường hệ thống thần kinh trung ương (vô sọ, khuyết tật ống nơron
thần kinh), khuyết tật cấu trúc hệ tiêu hóa (hẹp vị môn, teo thực
quản hoặc ống tiêu hóa), dị tật hở hàm ếch… thai nhi không thường
xuyên nuốt nước ối một cách bình thường thì lượng nước ối sẽ tăng
nhanh chóng, dẫn đến đa ối. Đa thai, đặc biệt song thai cùng trứng hay bất
thường bánh nhau dây rốn như phù nhau thai, dây rốn có một động mạch… dị dạng
thai nhi càng nhiều, càng nặng thì đa ối xuất hiện càng sớm.
Triệu chứng làm sàng gặp ở hai dạng, đa
ối cấp và đa ối mãn, đa ối cấp ít gặp hơn.
Đa ối
cấp: xảy ra ở ba tháng giữa thai kỳ, thường là dấu hiệu của song thai một trứng
hay thai nhi dị dạng. Do nước ối phát triển nhanh trong vài ngày làm tử
cung to, chèn ép vào cơ hoành nên bụng lớn nhanh và căng cứng, gây đau
bụng khó thở, khó ngủ, đôi khi bị tím tái, tim đập nhanh, ói mửa, phù chân,
phù âm hộ. Khám sẽ thấy bụng căng cứng, bề cao tử cung to rất nhiều so với tuổi
thai…, có dấu hiệu sóng vỗ, khó sờ được phần thai, tim thai khó nghe. Siêu âm
đo chỉ số ối > 25cm và phát hiện các bất thường thai nhi. Bệnh có thể
làm vỡ ối sớm, dẫn đến sinh non trước tuần 28; hoặc phải chấm dứt thai kỳ
nếu thai dị dạng nặng.
Đa ối
mãn: chiếm 95% trường hợp đa ối, xảy ra vào ba tháng cuối thai kỳ.
Triệu chứng cũng là bụng to hơn so với tuổi thai, khó thở, nhịp tim
nhanh. Tuy nhiên, dấu hiệu tiến triển chậm, người mẹ không đau nhiều,
khó thở nhiều nên dễ thích nghi hơn đa ối cấp.
Dù đa
ối cấp hay mãn thì cũng gây nhiều biến chứng cho thai nhi như: thai
chết lưu, sa dây rốn, túi ối bị căng quá sẽ làm vỡ ối non, ngôi thai
bất thường có thể dẫn đến sinh mổ; chuyển dạ kéo dài, gây khó sinh;
hiện tượng co tử cung yếu gây đờ tử cung khiến sản phụ có nguy cơ bị
băng huyết sau sinh.
Không
có phương pháp điều trị ngoài theo dõi người mẹ chặt chẽ. Nếu đa ối ảnh
hưởng tới tổng trạng người mẹ (khó thở, phải nằm đầu cao mới thở được), có
thể chọc ối để lấy bớt lượng nước ối qua thành bụng, tuy nhiên chọc ối
có thể gây nguy cơ sinh non cao.
BS Lê
Hồng Cẩm khuyến cáo: Để phòng ngừa đa ối, trước khi mang thai cần
khám sức khỏe tổng quát, điều trị bệnh nội khoa như đái tháo đường cho ổn
định, tầm soát và điều trị các bệnh nhiễm trùng, chích ngừa. Khi mang thai
cần đi khám thai định kỳ, nếu có dấu hiệu bất thường trong thai kỳ,
cần gặp bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.

Post a Comment