Chia sẻ
trong buổi nói chuyện với các phụ huynh của Hội quán các bà mẹ, bác sĩ Nguyễn
Ban Mai (Phó khoa sản E, Bệnh viện Từ Dũ, TP HCM) cho biết, trước đây phần lớn
trẻ được đẻ thường, khoảng 90%. Tuy nhiên, ngày càng nhiều người muốn sinh mổ
vì sợ đau và một phần do muốn chọn ngày đẹp. Mổ đẻ tức là phẫu thuật vùng bụng
bằng gây mê hoàn toàn hoặc gây tê vùng cột sống. Các bác sĩ sẽ mở ổ bụng và phần
dưới của dạ con, lấy em bé ra, cắt rốn, sau đó bỏ nhau thai đi và khâu kín bụng
theo trình tự ngược lại.
Tất nhiên,
cũng có những lý do về mặt y học khiến việc mổ đẻ là cần thiết như bé nằm không
đúng ngôi trong bụng mẹ (quay chân hoặc mông xuống dưới), nhau thai nằm chắn đường
ra của bé (nhau tiền đạo), tỷ lệ giữa em bé và vùng xương chậu của mẹ không cân
xứng (em bé to, vùng xương chậu của mẹ hẹp)... Những bác sĩ có kinh nghiệm có
thể dự đoán được sinh mổ hay sinh thường ở ngay tuần thứ 36-38 của thai kỳ.
Cũng có
trường hợp được tiên liệu đẻ thường nhưng trong quá trình lâm bồn phát sinh một
số vấn đề như cổ tử cung không mở đủ rộng hoặc tim em bé có dấu hiệu xấu đi…
thì lúc đó bác sĩ sẽ chỉ định mổ. Thời gian từ lúc gây tê đến khi lấy thai chỉ
kéo dài 3 phút nên sản phụ không nên lo lắng là việc mổ chậm trễ có thể ảnh hưởng
đến thai nhi.
Bác sĩ
Mai nhận xét, tuyệt vời nhất là trẻ được sinh thường, bởi cái gì thuận với tự
nhiên cũng tốt hơn. Khi ra đời bằng phương pháp sinh thường, bé sẽ biết lựa chiều
phù hợp với khung xương của mẹ, biết chồng các xương của mình lại để có thể ra
một cách dễ dàng nhất, ví dụ hai vai bé so lại, chân chụm lại, bé buộc phải ép
ngực và lúc đó nước trong phổi sẽ ra hết. Khi bé khóc, phổi sẽ nở ra. Vì thế hệ
hô hấp của những bé sinh thường bao giờ cũng tốt hơn sinh mổ.
Ngoài ra
khi sinh thường, trẻ được tiếp xúc với dịch trong âm đạo của mẹ, được tiếp nhận
vi sinh vật có lợi ở đây (âm đạo của một phụ nữ bình thường là nơi chung sống
hòa bình của khoảng 22 loại vi khuẩn có lợi). Vì thế, tự cơ thể của bé có thể sản
xuất hệ miễn dịch. Đây là bước quan trọng đầu tiên để phát triển hệ miễn dịch của
trẻ.
Ở trẻ
sinh mổ, bé không tiếp nhận được vi sinh vật có lợi từ âm đạo của mẹ, dẫn đến
vi sinh vật có lợi chậm khu trú trong đường ruột, dẫn đến sự phát triển của hệ
miễn dịch bị chậm trễ.
Môi trường
bên ngoài đầu tiên mà bé ra đời bằng phương pháp sinh mổ tiếp xúc chính là
không khí phòng mổ với rất nhiều mùi thuốc gây tê hay gây mê. Tuy đây là một
môi trường được khử trùng nhưng không hoàn toàn vô trùng, vẫn có nhiều vi khuẩn
gây hại có thể ẩn nấp ở đâu đó, và hệ miễn dịch của trẻ sinh mổ tự tạo ra khác
hẳn với hệ miễn dịch của trẻ sinh thường.
Hệ miễn
dịch phát triển chậm trễ khiến trẻ sinh mổ dễ mắc bệnh hơn trẻ sinh thường, đặc
biệt là hen suyễn, bệnh về hô hấp, bệnh về đường tiêu hóa và dị ứng. Bạn có thể
biết nguy cơ dị ứng của bé dựa vào tiền sử dị ứng của gia đình. Nếu cả hai vợ
chồng đều từng bị dị ứng, nguy cơ dị ứng của bé sẽ là 60-80%; vợ hoặc chồng từng
bị dị ứng, tỷ lệ dị ứng của trẻ là 20-40%; thậm chí dù cả bố và mẹ đều chưa từng
bị dị ứng, vẫn có 15% trẻ sinh mổ có nguy cơ dị ứng.
Để giúp
bé có hệ miễn dịch tốt hơn, bác sĩ Ban Mai khuyên các sản phụ hãy cho bé bú sữa
mẹ hoàn toàn ít nhất trong 6 tháng đầu tiên sau khi sinh. Đặc biệt, sữa mẹ
trong 5 ngày đầu sau khi sinh chứa rất nhiều kháng thể quý giá. Những giọt sữa
vàng đặc sánh, khác hẳn với những giọt sữa trắng trong sau này. Trong trường hợp
không thể cho bé bú sữa mẹ, chế độ dinh dưỡng hàng ngày cần bổ sung vi sinh vật
có lợi và giúp hỗ trợ hệ miễn dịch cho trẻ.
Bác sĩ
cũng nhận xét, mặc dù có cảm tưởng mổ đẻ không có biến chứng nhưng các số liệu
thống kê cho thấy tỷ lệ bị biến chứng ở các ca mổ đẻ cao gấp 3 lần so với ca đẻ
bình thường. Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng ở các ca mổ đẻ bắt buộc đối với mẹ và
bé cũng cao hơn nhiều (do tác động của thuốc gây mê). Ngay cả vết sẹo mổ đẻ
cũng có thể gây ra những vấn đề cho các lần mang thai và sinh đẻ sau này như bục
vết mổ, nhau thai ăn vào vết mổ.
.jpg)
Post a Comment