Chăm sóc hệ tiêu hóa của trẻ đúng cách Thống kê của BV Nhi Trung ương cho thấy, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi bị rối loạn tiêu hóa lên đến 59,2%, từ 1 đến 2 tuổi là 39,9%.
Đáng chú ý, trẻ thường chỉ được đưa đến cơ sở y tế khi những biểu hiện đặc trưng của rối loạn tiêu hóa đã kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của trẻ.
Muôn mặt về chứng rối loạn tiêu hóa
Có mặt tại Viện Dinh dưỡng Quốc gia trong những ngày giao mùa này, chúng tôi đã gặp không ít những trường hợp khóc dở, mếu dở xung quanh chứng rối loạn tiêu hóa của trẻ. Bế trên tay đứa con 17 tháng tuổi, chị Nguyễn Thị Nhung (Đống Đa, Hà Nội) nghẹn ngào: “Cháu nhà tôi vừa khám, bác sĩ nói bị suy dinh dưỡng. Nhà có thiếu thốn thứ gì đâu mà con thì gầy nhom. Cũng chỉ vì nó hay mắc rối loạn tiêu hóa. Cứ ăn cái gì lạ là đau bụng, trướng bụng, rồi tiêu chảy, thế là tôi không dám cho ăn đồ lạ, tanh nữa. Mỗi lần đau ốm lại dùng kháng sinh, rồi lại tiêu chảy. Dùng các men tiêu hóa chẳng ăn thua, tôi đành dùng thuốc đi ngoài.
Đến đây, bác sĩ nói cách điều trị như vậy chẳng khác nào hại con, tự ý dùng thuốc đi ngoài, kháng sinh khiến tổn thương đường ruột của trẻ, mất vi khuẩn có lợi, khiến chứng rối loạn tiêu hóa có thể tạm thời khỏi lúc đó, nhưng dễ tái phát và bị tổn thương nghiêm trọng, trẻ kém hấp thu, thậm chí suy dinh dưỡng. Đúng là nhiều khi mình chủ quan, chỉ chú ý đến dinh dưỡng mà không biết hệ tiêu hóa tốt cần thiết như thế nào, là nền tảng của mọi vấn đề”


Vì sao trẻ hay mắc vấn đề về tiêu hóa
Ruột của trẻ em dài hơn người lớn. Độ dài ruột của trẻ sơ sinh gấp 7-8 lần chiều dài cơ thể, người trưởng thành là 4 – 5 lần. Diện tích ống tiêu hóa của trẻ tương đối lớn, thành ruột rất mỏng, mạch máu nhỏ dưới niêm mạc nhiều, thẩm thấu cao, nên tỉ lệ hấp thu cao. Nhưng do thành ruột mỏng, hễ đường tiêu hóa nhiễm trùng thì chất độc dễ thông qua thành ruột xâm nhập vào máu, gây ra hiện tượng ngộ độc.
Thành đại tràng của trẻ mỏng, sự cố định giữa đại tràng lên và đại tràng xuống với thành sau bụng yếu cho nên dễ gây lồng ruột. Hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện do vậy đường ruột rất dễ bị ảnh hưởng từ bên ngoài, dẫn đến các rối loạn hệ tiêu hóa biểu hiện bằng các triệu chứng: phân sống, táo bón, tiêu chảy…
Vì vậy, nên bổ sung men vi sinh cho trẻ để hệ tiêu hóa của trẻ tốt hơn giúp ích cho sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn.
Men vi sinh (Probiotic) theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ những vi khuẩn có lợi kí sinh trong lòng ruột, những vi sinh vật này khi được đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ, chúng sẽ có lợi cho sức khỏe.
Những vi khuẩn có lợi này góp phần tích cực vào quá trình chuyển hóa dinh dưỡng và cả trong vai trò bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của kẻ thù bên ngoài và có thể tạo ra các chất: ngăn cản các khối ung thư, bất hoạt virus, tạo ra các kháng thể và vitamin, làm giảm cholesterol.
 Theo khampha.vn

Chăm sóc hệ tiêu hóa của trẻ đúng cách

Chăm sóc hệ tiêu hóa của trẻ đúng cách Thống kê của BV Nhi Trung ương cho thấy, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi bị rối loạn tiêu hóa lên đến 59,2%, từ 1 đến 2 tuổi là 39,9%.
Đáng chú ý, trẻ thường chỉ được đưa đến cơ sở y tế khi những biểu hiện đặc trưng của rối loạn tiêu hóa đã kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của trẻ.
Muôn mặt về chứng rối loạn tiêu hóa
Có mặt tại Viện Dinh dưỡng Quốc gia trong những ngày giao mùa này, chúng tôi đã gặp không ít những trường hợp khóc dở, mếu dở xung quanh chứng rối loạn tiêu hóa của trẻ. Bế trên tay đứa con 17 tháng tuổi, chị Nguyễn Thị Nhung (Đống Đa, Hà Nội) nghẹn ngào: “Cháu nhà tôi vừa khám, bác sĩ nói bị suy dinh dưỡng. Nhà có thiếu thốn thứ gì đâu mà con thì gầy nhom. Cũng chỉ vì nó hay mắc rối loạn tiêu hóa. Cứ ăn cái gì lạ là đau bụng, trướng bụng, rồi tiêu chảy, thế là tôi không dám cho ăn đồ lạ, tanh nữa. Mỗi lần đau ốm lại dùng kháng sinh, rồi lại tiêu chảy. Dùng các men tiêu hóa chẳng ăn thua, tôi đành dùng thuốc đi ngoài.
Đến đây, bác sĩ nói cách điều trị như vậy chẳng khác nào hại con, tự ý dùng thuốc đi ngoài, kháng sinh khiến tổn thương đường ruột của trẻ, mất vi khuẩn có lợi, khiến chứng rối loạn tiêu hóa có thể tạm thời khỏi lúc đó, nhưng dễ tái phát và bị tổn thương nghiêm trọng, trẻ kém hấp thu, thậm chí suy dinh dưỡng. Đúng là nhiều khi mình chủ quan, chỉ chú ý đến dinh dưỡng mà không biết hệ tiêu hóa tốt cần thiết như thế nào, là nền tảng của mọi vấn đề”


Vì sao trẻ hay mắc vấn đề về tiêu hóa
Ruột của trẻ em dài hơn người lớn. Độ dài ruột của trẻ sơ sinh gấp 7-8 lần chiều dài cơ thể, người trưởng thành là 4 – 5 lần. Diện tích ống tiêu hóa của trẻ tương đối lớn, thành ruột rất mỏng, mạch máu nhỏ dưới niêm mạc nhiều, thẩm thấu cao, nên tỉ lệ hấp thu cao. Nhưng do thành ruột mỏng, hễ đường tiêu hóa nhiễm trùng thì chất độc dễ thông qua thành ruột xâm nhập vào máu, gây ra hiện tượng ngộ độc.
Thành đại tràng của trẻ mỏng, sự cố định giữa đại tràng lên và đại tràng xuống với thành sau bụng yếu cho nên dễ gây lồng ruột. Hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện do vậy đường ruột rất dễ bị ảnh hưởng từ bên ngoài, dẫn đến các rối loạn hệ tiêu hóa biểu hiện bằng các triệu chứng: phân sống, táo bón, tiêu chảy…
Vì vậy, nên bổ sung men vi sinh cho trẻ để hệ tiêu hóa của trẻ tốt hơn giúp ích cho sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn.
Men vi sinh (Probiotic) theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ những vi khuẩn có lợi kí sinh trong lòng ruột, những vi sinh vật này khi được đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ, chúng sẽ có lợi cho sức khỏe.
Những vi khuẩn có lợi này góp phần tích cực vào quá trình chuyển hóa dinh dưỡng và cả trong vai trò bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của kẻ thù bên ngoài và có thể tạo ra các chất: ngăn cản các khối ung thư, bất hoạt virus, tạo ra các kháng thể và vitamin, làm giảm cholesterol.
 Theo khampha.vn
Đọc thêm..
Gene ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều cao của bé, nhưng cũng có khá nhiều yếu tố khác góp phần quyết định vấn đề này, trong đó có thực phẩm.
Những loại thực phẩm sau đặc biệt giúp trẻ phát triển chiều cao:
1. Rau chân vịt
Thủy thủ Popeye thường ăn rau chân vịt để cao lớn và khỏe mạnh. Loại rau lá xanh này chứa sắt và nhôm, cả hai khoáng chất đều cần thiết cho bé tăng chiều cao.


2. Cà rốt
Cà rốt chứa nhiều vitamin A, không chỉ tốt cho mắt mà còn tốt cho quá trình tổng hợp của protein để cơ thể cao hơn. Nếu bé không thích ăn cà rốt tươi, bạn có thể cho bé uống nước ép cà rốt nguyên chất.
3. Trứng
Đây là nguồn dinh dưỡng rất giàu protein cho cơ thể. Trẻ em thích ăn trứng, và bạn có thể cho con ăn trứng dưới nhiều dạng, luộc, đánh bông, ốp lết… Protein từ trứng rất cần thiết trong những năm trẻ phát triển.
4. Yến mạch
Là loại thực phẩm ít béo và giàu protein, và là lựa chọn tốt nhất cho bữa sáng hằng ngày. Các con bạn sẽ thích sản phẩm yến mạch đã qua chế biến và thêm hương vị, và bạn có thể tạo ra nhiều món ăn từ loại thực phẩm này.
5. Đậu nành đen
Đậu nành nói chung rất tốt cho quá trình phát triển và tăng trưởng. Đậu nành đen có lượng protein cao nhất và đặc biệt tốt cho tăng trưởng chiều cao.
6. Sữa
Uống sữa mỗi ngày rất cần thiết đối với trẻ. Không chỉ giàu canxi, sữa cũng giúp tổng hợp protein rất tốt trong cơ thể. Sữa và các sản phảm từ sữa như yogurt, bơ… đều rất tốt, bạn cần đẩm bảo cho bé sử dụng thật nhiều các sản phẩm này.
 7. Gà
Hầu hết trẻ đều thích ăn gà. Bạn có thể quay hoặc nướng gà cho bé ăn, cũng có thể làm salad hay nước xốt. Đây là thực phẩm giàu protein và giúp tăng trưởng chiều cao.
8. Hoa quả
Mọi loại hoa quả, đặc biệt những loại giàu vitamin A như đào và xoài đều tốt cho tăng trưởng và phát triển cơ thể. Hãy tạo cho bé thói quen ăn hoa quả tươi từ bé và bé sẽ có tương lai khỏe mạnh.
Cùng với việc cho trẻ sử dụng những thực phẩm này, hãy đảm bảo rằng bé nhà bạn chủ động tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và các môn thể thao giúp củng cố cơ, khả năng chịu đựng. Hãy khuyến khích bé tập các môn thể thao đặc biệt giúp tăng chiều cao để bé tự tin về chiều cao của mình trong tương lai.
 Nguồn: Vnexpress

6 thực phẩm làm tăng chiều cao cho trẻ

Gene ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều cao của bé, nhưng cũng có khá nhiều yếu tố khác góp phần quyết định vấn đề này, trong đó có thực phẩm.
Những loại thực phẩm sau đặc biệt giúp trẻ phát triển chiều cao:
1. Rau chân vịt
Thủy thủ Popeye thường ăn rau chân vịt để cao lớn và khỏe mạnh. Loại rau lá xanh này chứa sắt và nhôm, cả hai khoáng chất đều cần thiết cho bé tăng chiều cao.


2. Cà rốt
Cà rốt chứa nhiều vitamin A, không chỉ tốt cho mắt mà còn tốt cho quá trình tổng hợp của protein để cơ thể cao hơn. Nếu bé không thích ăn cà rốt tươi, bạn có thể cho bé uống nước ép cà rốt nguyên chất.
3. Trứng
Đây là nguồn dinh dưỡng rất giàu protein cho cơ thể. Trẻ em thích ăn trứng, và bạn có thể cho con ăn trứng dưới nhiều dạng, luộc, đánh bông, ốp lết… Protein từ trứng rất cần thiết trong những năm trẻ phát triển.
4. Yến mạch
Là loại thực phẩm ít béo và giàu protein, và là lựa chọn tốt nhất cho bữa sáng hằng ngày. Các con bạn sẽ thích sản phẩm yến mạch đã qua chế biến và thêm hương vị, và bạn có thể tạo ra nhiều món ăn từ loại thực phẩm này.
5. Đậu nành đen
Đậu nành nói chung rất tốt cho quá trình phát triển và tăng trưởng. Đậu nành đen có lượng protein cao nhất và đặc biệt tốt cho tăng trưởng chiều cao.
6. Sữa
Uống sữa mỗi ngày rất cần thiết đối với trẻ. Không chỉ giàu canxi, sữa cũng giúp tổng hợp protein rất tốt trong cơ thể. Sữa và các sản phảm từ sữa như yogurt, bơ… đều rất tốt, bạn cần đẩm bảo cho bé sử dụng thật nhiều các sản phẩm này.
 7. Gà
Hầu hết trẻ đều thích ăn gà. Bạn có thể quay hoặc nướng gà cho bé ăn, cũng có thể làm salad hay nước xốt. Đây là thực phẩm giàu protein và giúp tăng trưởng chiều cao.
8. Hoa quả
Mọi loại hoa quả, đặc biệt những loại giàu vitamin A như đào và xoài đều tốt cho tăng trưởng và phát triển cơ thể. Hãy tạo cho bé thói quen ăn hoa quả tươi từ bé và bé sẽ có tương lai khỏe mạnh.
Cùng với việc cho trẻ sử dụng những thực phẩm này, hãy đảm bảo rằng bé nhà bạn chủ động tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và các môn thể thao giúp củng cố cơ, khả năng chịu đựng. Hãy khuyến khích bé tập các môn thể thao đặc biệt giúp tăng chiều cao để bé tự tin về chiều cao của mình trong tương lai.
 Nguồn: Vnexpress
Đọc thêm..
Nhiều mẹ không ngờ rằng chính cách chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng cho trẻ không hợp lý khiến con bị lùn. Sau đây là một số cách cho con ăn sai lầm của mẹ.


Thiếu hụt canxi không chỉ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng cơ thể nói chung mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của bé. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều bé dù ăn nhiều canxi nhưng vẫn không thể cao. Theo Khám phá, nguyên nhân là bởi trẻ không chuyển hóa canxi tốt và mẹ không biết cách gia tăng sự hấp thụ canxi cho con.
Sau đâu là những kinh nghiệm dành cho các bà mẹ nếu thực sự không muốn thấy con mình với một chiều cao khiêm tốn:
Số lượng thịt, cá quá nhiều cũng giảm hấp thụ canxi
Lượng protein nạp vào cơ thể quá mức cũng làm giảm hấp thụ canxi. Thí nghiệm cho thấy: nếu một ngày trẻ ăn 80 gram protein thì sẽ có 37 mg canxi bị mất. Nếu lượng protein hàng ngày lên tới 240 gram và bổ sung hẳn 1400 mg canxi thì cũng sẽ “thất thoát” mất 137 mg canxi. Do đó, mẹ nên sắp xếp khẩu phần ăn của trẻ và lượng thịt cá bé nạp vào mỗi ngày sao cho không phá vỡ sự cân bằng của thực phẩm.
 Trộn canxi với thức ăn, sữa
Một số cha mẹ nghiền nát viên canxi và trộn lẫn với thức ăn hoặc sữa để cho bé ăn. Phương pháp này rất phản khoa học. Trẻ chỉ có thể hấp thụ tối đa 20% canxi trộn lẫn trong thức ăn, phần còn lại sẽ bị bài tiết sau khi tiêu hóa. Lượng canxi tồn đọng nhiều, lâu ngày sẽ gây ra táo bón ở trẻ.
Chỉ ninh xương nấu cháo cho trẻ
Lỗi “khổ lắm nói mãi” nhưng vẫn nhiều chị em mắc phải. Canxi trong canh xương tuyệt đối không dễ bị hòa tan. Sau khi ninh một nồi xương trong nồi áp suất khoảng 2 giờ đồng hồ, chất béo trong tủy xương lần lượt nổi lên, nhưng canxi trong nước xương vẫn rất ít. Vì vậy quan điểm cứ ăn nhiều canh xương thì sẽ có đủ canxi là không đúng.
Nếu mẹ muốn dùng canh xương để bổ sung canxi chỉ có một cách: Thêm một lượng giấm vừa phải, từ từ hầm trong khoảng 1-2 giờ. Giấm có thể giúp canxi trong xương hòa tan một cách hiệu quả.
Cho bé ăn đậu, khoai lang và cải bó xôi nấu cùng các đồ có chứa nhiều canxi hoặc sau khi uống sữa
Đậu, khoai lang và cải bó xôi là những thực phẩm có chứa rất nhiều axit Phytic.  Axit này sẽ liên kết với canxi trong cơ thể tạo thành muối. Kết quả là canxi chẳng được hấp thụ vào cơ thể bé mà thậm chí vì lý do sức khỏe, cơ thể trẻ sẽ còn “trục xuất” các hợp chất muối mới này dưới hình thức chất thải. Do vậy, nếu mẹ đã mua tôm, cua hay các loại hải sản cho con ăn thì mâm cơm hôm đó của bé nên tránh có đậu, đậu phụ, khoai lang và rau cải bó xôi. Nếu không sẽ chỉ là phí hoài.Đương nhiên, những axit này chỉ ảnh hướng tới những gì bé ăn ngay lúc đó. Điều này có nghĩ là nếu hôm nay bé đã ăn cải bó xôi thì ngày mai hoàn toàn có thể uống sữa mà không lo axit trong cải sẽ hấp thụ mất canxi.
Bổ sung canxi nhưng không có vitamin D
Để hấp thụ canxi, trẻ phải tiêu thụ vitamin D. Không có vitamin D, cơ thể không thể tạo ra một hormone gọi là calcitriol, trong khi đó hormone này lại góp phần hấp thu canxi. Ngoài việc tắm nắng cho trẻ, vitamin D có thể bổ sung qua đường uống hoặc qua một số loại thực phẩm như sữa, lòng đỏ trứng, cá hồi, nấm, dầu gan cá, pho mát…
Quá nhiều phốt pho khiến mất canxi
Trong những trường hợp bình thưởng, tỷ lệ canxi : phốt pho trong cơ thể là 2:1. Nói cách khác, lượng canxi nạp vào phải gấp đôi lượng phốt pho. Nếu mẹ cho con ăn đúng theo tỷ lệ này, cơ thể bé sẽ hấp thụ canxi tốt hơn. Vậy nhưng thực tế thì sao? Quá nhiều bà mẹ cho con uống nước có ga, nước ngọt, cà phê, bánh mì kẹp thịt, bánh pizza, khoai tây chiên và các loại thực phẩm chứa nhiều phốt pho khác. Kết quả tỷ lệ canxi : phốt pho trong cơ thể lên đến 1:10 hoặc thậm chí nhiều hơn. Quá nhiều phốt pho sẽ “đánh bật” canxi ra khỏi cơ thể trẻ, dẫn đến thiếu hụt canxi.
Không kiểm soát chặt lượng muối
Hấp thụ muối quá nhiều có thể sẽ làm tăng sự bài tiết các khoáng chất qua đường tiết niệu, đặc biệt là bài tiết canxi. Nói cách khác, càng ăn nhiều muối cơ thể sẽ càng bài tiết ra nhiều canxi. Với trẻ nhỏ, cơ thể rất nhạy cảm với muối nên mức độ bài tiết còn nhiều hơn người lớn. Chính vì vậy, đây lại là một lý do nữa để thuyết phục các bà mẹ không nên cho con ăn muối quá sớm và quá mặn.
Ăn nhiều rau màu xanh thẫm khi bổ sung canxi
Một số loại rau như rau bina, rau dền, măng tây, hành, đậu trắng, đậu tương, có chứa oxalat dễ dàng kết hợp với canxi trong cơ thể để tạo thành canxi oxalate, ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thụ canxi trong cơ thể. Vì vậy khi bổ sung canxi cho con mẹ nên lưu ý đến điều này.
 Nguồn: Phunutoday

Sai lầm khi cho con ăn khiến trẻ bị lùn

Nhiều mẹ không ngờ rằng chính cách chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng cho trẻ không hợp lý khiến con bị lùn. Sau đây là một số cách cho con ăn sai lầm của mẹ.


Thiếu hụt canxi không chỉ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng cơ thể nói chung mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của bé. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều bé dù ăn nhiều canxi nhưng vẫn không thể cao. Theo Khám phá, nguyên nhân là bởi trẻ không chuyển hóa canxi tốt và mẹ không biết cách gia tăng sự hấp thụ canxi cho con.
Sau đâu là những kinh nghiệm dành cho các bà mẹ nếu thực sự không muốn thấy con mình với một chiều cao khiêm tốn:
Số lượng thịt, cá quá nhiều cũng giảm hấp thụ canxi
Lượng protein nạp vào cơ thể quá mức cũng làm giảm hấp thụ canxi. Thí nghiệm cho thấy: nếu một ngày trẻ ăn 80 gram protein thì sẽ có 37 mg canxi bị mất. Nếu lượng protein hàng ngày lên tới 240 gram và bổ sung hẳn 1400 mg canxi thì cũng sẽ “thất thoát” mất 137 mg canxi. Do đó, mẹ nên sắp xếp khẩu phần ăn của trẻ và lượng thịt cá bé nạp vào mỗi ngày sao cho không phá vỡ sự cân bằng của thực phẩm.
 Trộn canxi với thức ăn, sữa
Một số cha mẹ nghiền nát viên canxi và trộn lẫn với thức ăn hoặc sữa để cho bé ăn. Phương pháp này rất phản khoa học. Trẻ chỉ có thể hấp thụ tối đa 20% canxi trộn lẫn trong thức ăn, phần còn lại sẽ bị bài tiết sau khi tiêu hóa. Lượng canxi tồn đọng nhiều, lâu ngày sẽ gây ra táo bón ở trẻ.
Chỉ ninh xương nấu cháo cho trẻ
Lỗi “khổ lắm nói mãi” nhưng vẫn nhiều chị em mắc phải. Canxi trong canh xương tuyệt đối không dễ bị hòa tan. Sau khi ninh một nồi xương trong nồi áp suất khoảng 2 giờ đồng hồ, chất béo trong tủy xương lần lượt nổi lên, nhưng canxi trong nước xương vẫn rất ít. Vì vậy quan điểm cứ ăn nhiều canh xương thì sẽ có đủ canxi là không đúng.
Nếu mẹ muốn dùng canh xương để bổ sung canxi chỉ có một cách: Thêm một lượng giấm vừa phải, từ từ hầm trong khoảng 1-2 giờ. Giấm có thể giúp canxi trong xương hòa tan một cách hiệu quả.
Cho bé ăn đậu, khoai lang và cải bó xôi nấu cùng các đồ có chứa nhiều canxi hoặc sau khi uống sữa
Đậu, khoai lang và cải bó xôi là những thực phẩm có chứa rất nhiều axit Phytic.  Axit này sẽ liên kết với canxi trong cơ thể tạo thành muối. Kết quả là canxi chẳng được hấp thụ vào cơ thể bé mà thậm chí vì lý do sức khỏe, cơ thể trẻ sẽ còn “trục xuất” các hợp chất muối mới này dưới hình thức chất thải. Do vậy, nếu mẹ đã mua tôm, cua hay các loại hải sản cho con ăn thì mâm cơm hôm đó của bé nên tránh có đậu, đậu phụ, khoai lang và rau cải bó xôi. Nếu không sẽ chỉ là phí hoài.Đương nhiên, những axit này chỉ ảnh hướng tới những gì bé ăn ngay lúc đó. Điều này có nghĩ là nếu hôm nay bé đã ăn cải bó xôi thì ngày mai hoàn toàn có thể uống sữa mà không lo axit trong cải sẽ hấp thụ mất canxi.
Bổ sung canxi nhưng không có vitamin D
Để hấp thụ canxi, trẻ phải tiêu thụ vitamin D. Không có vitamin D, cơ thể không thể tạo ra một hormone gọi là calcitriol, trong khi đó hormone này lại góp phần hấp thu canxi. Ngoài việc tắm nắng cho trẻ, vitamin D có thể bổ sung qua đường uống hoặc qua một số loại thực phẩm như sữa, lòng đỏ trứng, cá hồi, nấm, dầu gan cá, pho mát…
Quá nhiều phốt pho khiến mất canxi
Trong những trường hợp bình thưởng, tỷ lệ canxi : phốt pho trong cơ thể là 2:1. Nói cách khác, lượng canxi nạp vào phải gấp đôi lượng phốt pho. Nếu mẹ cho con ăn đúng theo tỷ lệ này, cơ thể bé sẽ hấp thụ canxi tốt hơn. Vậy nhưng thực tế thì sao? Quá nhiều bà mẹ cho con uống nước có ga, nước ngọt, cà phê, bánh mì kẹp thịt, bánh pizza, khoai tây chiên và các loại thực phẩm chứa nhiều phốt pho khác. Kết quả tỷ lệ canxi : phốt pho trong cơ thể lên đến 1:10 hoặc thậm chí nhiều hơn. Quá nhiều phốt pho sẽ “đánh bật” canxi ra khỏi cơ thể trẻ, dẫn đến thiếu hụt canxi.
Không kiểm soát chặt lượng muối
Hấp thụ muối quá nhiều có thể sẽ làm tăng sự bài tiết các khoáng chất qua đường tiết niệu, đặc biệt là bài tiết canxi. Nói cách khác, càng ăn nhiều muối cơ thể sẽ càng bài tiết ra nhiều canxi. Với trẻ nhỏ, cơ thể rất nhạy cảm với muối nên mức độ bài tiết còn nhiều hơn người lớn. Chính vì vậy, đây lại là một lý do nữa để thuyết phục các bà mẹ không nên cho con ăn muối quá sớm và quá mặn.
Ăn nhiều rau màu xanh thẫm khi bổ sung canxi
Một số loại rau như rau bina, rau dền, măng tây, hành, đậu trắng, đậu tương, có chứa oxalat dễ dàng kết hợp với canxi trong cơ thể để tạo thành canxi oxalate, ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thụ canxi trong cơ thể. Vì vậy khi bổ sung canxi cho con mẹ nên lưu ý đến điều này.
 Nguồn: Phunutoday
Đọc thêm..
Không phải cứ con mình bé hơn con hàng xóm tức là suy dinh dưỡng. Trẻ chậm phát triển sẽ có những biểu hiện này!
Nỗi sợ hãi con “còi”, con chậm phát triển là nỗi lo lắng, nỗi “ám ảnh” muôn thủa của các bà mẹ Việt. Nhiều chị em không tiếc công sức mua thực phẩm chức năng, thuốc bổ cùng những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhất để nhồi nhét cho con cái với niềm mong mỏi có con bụ con béo. Cũng có không ít bà mẹ lại bị rơi vào trạng thái trầm cảm, căng thẳng, suy sụp chỉ vì chuyện cân nặng của con.Tuy nhiên, cơ sở nào, số liệu nào nói rằng trẻ đã bị suy dinh dưỡng thì lại không phải bà mẹ nào cũng biết rõ. Không phải cứ con mình bé hơn con hàng xóm tức là bé đã bị suy dinh dưỡng. Một bà mẹ thông thái phải là một bà mẹ hiểu con, hiểu đúng tình trạng sức khỏe con và hiểu rõ được những dấu hiệu cảnh báo trẻ 0-2 tuổi suy dinh dưỡng này.


Chỉ số cân nặng
Trọng lượng được coi như chỉ số quan trọng nhạy cảm nhất phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em. Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn, lượng thức ăn trẻ ăn vào sẽ thể hiện ngay trong chỉ số cân năng Trọng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, ốm sốt hay bệnh tật.
Một em bé sơ sinh bình thường cân nặng trong ba tháng đầu tiên sẽ phát triển nhanh nhất, thường vào khoảng tăng 600-1.000 gram/ tháng, tốt nhất là không dưới 600 gram trong 3 tháng đầu. Giai đoạn 3-6 tháng, trẻ sẽ tăng mỗi tháng 600-800 gram. Giai đoạn 6 đến 12 tháng mức tăng trung bình hàng tháng là 300 gram. Khi trẻ đạt 1 tuổi, tốc độ tăng trưởng chậm sẽ lại đáng kể. Tính trung bình trẻ 1 đến 3 tuổi chỉ tăng khoảng 150 gram mỗi tháng, có bé nhiều tháng không tăng được lạng nào.Sau này khi bé lớn, trọng lượng chuẩn sẽ được tính theo công thức: cân nặng (kg) = tuổi (năm) x 2 +7 (hoặc 8)
Những em bé không đạt được chỉ số cân nặng này sẽ có dấu hiệu còi, suy dinh dưỡng. Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo Bảng cân nặng của trẻ 0-5 tuổi theo chuẩn WHO tại đây.
Chỉ số chiều cao
Chiều cao cũng là một chỉ số quan trọng thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Tuy nhiên nó phản ánh tình trạng dinh dưỡng, tăng trưởng và phát triển lâu dài, không bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không rõ ràng bởi các yếu tố tác động ngắn hạn như ốm sốt hay bệnh tật.
Chiều cao của trẻ phát triển nhanh nhất trong năm đầu tiên sau khi sinh. Tính trung bình một em bé bình thường năm đầu tăng tăng 25 cm, năm thứ 2 tăng 10 cm, năm thứ 3 tăng từ 4-7,5 cm.
 Sau một năm chiều cao trung bình của trẻ sẽ tính theo công thức: chiều cao (cm) = tuổi (năm) x 5 80 (cm). Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo chiều cao của trẻ em có thể theo tiêu chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại đây.
Những em bé không đạt được các chỉ số chiều cao này cho thấy dấu hiệu của việc chậm phát triển thể chất.
Chu vi vòng đầu
Chu vi vòng đầu là một chỉ số quan trọng thể hiện mức độ phát triển não bộ của trẻ. Chu vi vòng đầu trong năm đầu tiên sau khi sinh phát triển nhanh nhất. Trung bình khi sinh chu vi đầu của trẻ sẽ là 34cm, 1 tuổi đạt trung bình 46cm; năm thứ 2 tăng 2cm, năm thứ 3 tăng 1 ~ 2cm.  Chu vi vòng đầu khi trẻ đạt 3 tuổi trung bình sẽ là 48cm, và từ đó đến khi trưởng thành sẽ không có nhiều sự khác biệt.
Tuy nhiên mẹ cũng cần lưu ý rằng không phải cứ 100% trẻ đầu to là học giỏi và kích thước đầu không phải là tỷ lệ thuận trí thông minh . Chu vi vòng đầu của trẻ nên ở trong phạm vi bình thường, không nên quá nhỏ, cũng không nên to bất thường. Chu vi vòng đầu quá lớn sẽ phải xem xét đến các trường hợp u não, não úng thủy.
Trẻ không đạt chu vi vòng đầu theo những chỉ số trên cần được cân nhắc về tình trạng suy dinh dưỡng.
Tỷ lệ vòng ngực và vòng đầu
Lúc mới sinh, vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu 1-2cm. Dần dần cùng với sự lớn lên của trẻ, vòng ngực sẽ đuổi kịp vòng đầu, đến tháng thứ 12 thì gần tương đương. Những bé có tình trạng dinh dưỡng tốt, thậm chí chưa đến 1 tuổi vòng ngực và vòng đầu sẽ bằng nhau. Sau khi được 1 tuổi, vòng ngực sẽ phát triển nhanh hơn, tăng đáng kể so với vòng đầu. Những trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ là những em bé có tỷ lệ vòng ngực bằng vòng đầu muộn.
Theo khampha.vn

Dấu hiệu của những em bé bị ‘còi’

Không phải cứ con mình bé hơn con hàng xóm tức là suy dinh dưỡng. Trẻ chậm phát triển sẽ có những biểu hiện này!
Nỗi sợ hãi con “còi”, con chậm phát triển là nỗi lo lắng, nỗi “ám ảnh” muôn thủa của các bà mẹ Việt. Nhiều chị em không tiếc công sức mua thực phẩm chức năng, thuốc bổ cùng những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhất để nhồi nhét cho con cái với niềm mong mỏi có con bụ con béo. Cũng có không ít bà mẹ lại bị rơi vào trạng thái trầm cảm, căng thẳng, suy sụp chỉ vì chuyện cân nặng của con.Tuy nhiên, cơ sở nào, số liệu nào nói rằng trẻ đã bị suy dinh dưỡng thì lại không phải bà mẹ nào cũng biết rõ. Không phải cứ con mình bé hơn con hàng xóm tức là bé đã bị suy dinh dưỡng. Một bà mẹ thông thái phải là một bà mẹ hiểu con, hiểu đúng tình trạng sức khỏe con và hiểu rõ được những dấu hiệu cảnh báo trẻ 0-2 tuổi suy dinh dưỡng này.


Chỉ số cân nặng
Trọng lượng được coi như chỉ số quan trọng nhạy cảm nhất phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em. Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn, lượng thức ăn trẻ ăn vào sẽ thể hiện ngay trong chỉ số cân năng Trọng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, ốm sốt hay bệnh tật.
Một em bé sơ sinh bình thường cân nặng trong ba tháng đầu tiên sẽ phát triển nhanh nhất, thường vào khoảng tăng 600-1.000 gram/ tháng, tốt nhất là không dưới 600 gram trong 3 tháng đầu. Giai đoạn 3-6 tháng, trẻ sẽ tăng mỗi tháng 600-800 gram. Giai đoạn 6 đến 12 tháng mức tăng trung bình hàng tháng là 300 gram. Khi trẻ đạt 1 tuổi, tốc độ tăng trưởng chậm sẽ lại đáng kể. Tính trung bình trẻ 1 đến 3 tuổi chỉ tăng khoảng 150 gram mỗi tháng, có bé nhiều tháng không tăng được lạng nào.Sau này khi bé lớn, trọng lượng chuẩn sẽ được tính theo công thức: cân nặng (kg) = tuổi (năm) x 2 +7 (hoặc 8)
Những em bé không đạt được chỉ số cân nặng này sẽ có dấu hiệu còi, suy dinh dưỡng. Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo Bảng cân nặng của trẻ 0-5 tuổi theo chuẩn WHO tại đây.
Chỉ số chiều cao
Chiều cao cũng là một chỉ số quan trọng thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Tuy nhiên nó phản ánh tình trạng dinh dưỡng, tăng trưởng và phát triển lâu dài, không bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không rõ ràng bởi các yếu tố tác động ngắn hạn như ốm sốt hay bệnh tật.
Chiều cao của trẻ phát triển nhanh nhất trong năm đầu tiên sau khi sinh. Tính trung bình một em bé bình thường năm đầu tăng tăng 25 cm, năm thứ 2 tăng 10 cm, năm thứ 3 tăng từ 4-7,5 cm.
 Sau một năm chiều cao trung bình của trẻ sẽ tính theo công thức: chiều cao (cm) = tuổi (năm) x 5 80 (cm). Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo chiều cao của trẻ em có thể theo tiêu chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại đây.
Những em bé không đạt được các chỉ số chiều cao này cho thấy dấu hiệu của việc chậm phát triển thể chất.
Chu vi vòng đầu
Chu vi vòng đầu là một chỉ số quan trọng thể hiện mức độ phát triển não bộ của trẻ. Chu vi vòng đầu trong năm đầu tiên sau khi sinh phát triển nhanh nhất. Trung bình khi sinh chu vi đầu của trẻ sẽ là 34cm, 1 tuổi đạt trung bình 46cm; năm thứ 2 tăng 2cm, năm thứ 3 tăng 1 ~ 2cm.  Chu vi vòng đầu khi trẻ đạt 3 tuổi trung bình sẽ là 48cm, và từ đó đến khi trưởng thành sẽ không có nhiều sự khác biệt.
Tuy nhiên mẹ cũng cần lưu ý rằng không phải cứ 100% trẻ đầu to là học giỏi và kích thước đầu không phải là tỷ lệ thuận trí thông minh . Chu vi vòng đầu của trẻ nên ở trong phạm vi bình thường, không nên quá nhỏ, cũng không nên to bất thường. Chu vi vòng đầu quá lớn sẽ phải xem xét đến các trường hợp u não, não úng thủy.
Trẻ không đạt chu vi vòng đầu theo những chỉ số trên cần được cân nhắc về tình trạng suy dinh dưỡng.
Tỷ lệ vòng ngực và vòng đầu
Lúc mới sinh, vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu 1-2cm. Dần dần cùng với sự lớn lên của trẻ, vòng ngực sẽ đuổi kịp vòng đầu, đến tháng thứ 12 thì gần tương đương. Những bé có tình trạng dinh dưỡng tốt, thậm chí chưa đến 1 tuổi vòng ngực và vòng đầu sẽ bằng nhau. Sau khi được 1 tuổi, vòng ngực sẽ phát triển nhanh hơn, tăng đáng kể so với vòng đầu. Những trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ là những em bé có tỷ lệ vòng ngực bằng vòng đầu muộn.
Theo khampha.vn
Đọc thêm..
1. Không dọa dẫm, thúc ép trẻ ăn cho bằng được
Thay vì dọa dẫm hay quát nạt, phụ huynh nên giới thiệu, trò chuyện với con về xuất xứ, cách chế biến của món ăn thông qua các câu chuyện vui vẻ, giúp tăng hứng thú với việc ăn uống. Vì khi trẻ bị ép ăn, trẻ sẽ càng có ác cảm hơn với loại đồ ăn đó, và tất nhiên khi đó bé sẽ tìm mọi cách để không phải ăn nó.


2. Chế biến các món ăn phù hợp
Nếu trẻ đã đủ tuổi và đảm bảo sức nhai thì nên cho trẻ ăn cơm thay vì bắt trẻ ăn cháo xay và ngược lại. Nhiều cha mẹ lo con không ăn được con nên cứ bắt con ăn cháo. Mà nhiều khi trẻ đã quá chán với món đấy rồi. Bên cạnh đó, trẻ cũng đã có khả năng nhai cơm thì bạn nên tạo điều kiện cho trẻ ăn món trẻ thích.
3. Cho con vận động và không ăn vặt trước bữa chính
Việc cho con tham gia các trò chơi, vận động nhẹ nhàng trước bữa ăn sẽ khiến bé có cảm giác đói và thèm ăn hơn để bù lại lượng năng lượng đã tiêu hao trong quá trình vận động. Bên cạnh đó, cần tránh và tốt nhất là không nên cho bé ăn vặt trước bữa chính để tránh ngang bụng, không còn cảm giác thèm ăn.
4. Không cho con vừa ăn, vừa chơi hoặc xem tivi
Các trò chơi, tivi, điện thoại hay máy tính… sẽ khiến khả năng tập trung vào ăn uống giảm đi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của trẻ, gây mất thời gian của bố mẹ mà còn tạo thành thói quen xấu lâu dài.
 5. Khuyến khích bé tự xúc, tự gắp thức ăn
Việc để cho bé tự xúc, tự gắp thức ăn không những tập cho trẻ tính tự lập mà còn đưa cho trẻ cơ hội để tự lựa chọn những loại thức ăn phù hợp trong thực đơn đã được chuẩn bị sẵn. Đây là cách để trẻ cảm nhận thấy chúng được tôn trọng đồng thời cũng là cách để phụ huynh biết được con mình thích ăn món nào, không thích ăn món nào.
6. Không kéo dài bữa ăn quá 30 phút
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ cho bé ăn trong vòng 30 phút/ 1 bữa. Nếu bữa ăn kéo dài hàng giờ sẽ không đảm bảo dinh dưỡng do thức ăn không còn nóng và ảnh hưởng tới bữa ăn kế tiếp. Không kéo dài bữa ăn quá 30 phút cũng sẽ giúp bé tập thói quen nhanh nhẹn trong ăn uống, cha mẹ cũng không mất quá nhiều thời gian cho con ăn.
Nguồn: ST

Mẹo đơn giản giúp con hết biếng ăn

1. Không dọa dẫm, thúc ép trẻ ăn cho bằng được
Thay vì dọa dẫm hay quát nạt, phụ huynh nên giới thiệu, trò chuyện với con về xuất xứ, cách chế biến của món ăn thông qua các câu chuyện vui vẻ, giúp tăng hứng thú với việc ăn uống. Vì khi trẻ bị ép ăn, trẻ sẽ càng có ác cảm hơn với loại đồ ăn đó, và tất nhiên khi đó bé sẽ tìm mọi cách để không phải ăn nó.


2. Chế biến các món ăn phù hợp
Nếu trẻ đã đủ tuổi và đảm bảo sức nhai thì nên cho trẻ ăn cơm thay vì bắt trẻ ăn cháo xay và ngược lại. Nhiều cha mẹ lo con không ăn được con nên cứ bắt con ăn cháo. Mà nhiều khi trẻ đã quá chán với món đấy rồi. Bên cạnh đó, trẻ cũng đã có khả năng nhai cơm thì bạn nên tạo điều kiện cho trẻ ăn món trẻ thích.
3. Cho con vận động và không ăn vặt trước bữa chính
Việc cho con tham gia các trò chơi, vận động nhẹ nhàng trước bữa ăn sẽ khiến bé có cảm giác đói và thèm ăn hơn để bù lại lượng năng lượng đã tiêu hao trong quá trình vận động. Bên cạnh đó, cần tránh và tốt nhất là không nên cho bé ăn vặt trước bữa chính để tránh ngang bụng, không còn cảm giác thèm ăn.
4. Không cho con vừa ăn, vừa chơi hoặc xem tivi
Các trò chơi, tivi, điện thoại hay máy tính… sẽ khiến khả năng tập trung vào ăn uống giảm đi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của trẻ, gây mất thời gian của bố mẹ mà còn tạo thành thói quen xấu lâu dài.
 5. Khuyến khích bé tự xúc, tự gắp thức ăn
Việc để cho bé tự xúc, tự gắp thức ăn không những tập cho trẻ tính tự lập mà còn đưa cho trẻ cơ hội để tự lựa chọn những loại thức ăn phù hợp trong thực đơn đã được chuẩn bị sẵn. Đây là cách để trẻ cảm nhận thấy chúng được tôn trọng đồng thời cũng là cách để phụ huynh biết được con mình thích ăn món nào, không thích ăn món nào.
6. Không kéo dài bữa ăn quá 30 phút
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ cho bé ăn trong vòng 30 phút/ 1 bữa. Nếu bữa ăn kéo dài hàng giờ sẽ không đảm bảo dinh dưỡng do thức ăn không còn nóng và ảnh hưởng tới bữa ăn kế tiếp. Không kéo dài bữa ăn quá 30 phút cũng sẽ giúp bé tập thói quen nhanh nhẹn trong ăn uống, cha mẹ cũng không mất quá nhiều thời gian cho con ăn.
Nguồn: ST
Đọc thêm..
Rôm sảy là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong những ngày nắng nóng. Nếu không điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Để phòng tránh bệnh này cho bé, bạn có thể tham khảo một vài kinh nghiệm thực tế được nhiều mẹ áp dụng.


Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Nho, Khoa da liễu, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô cho biết: Thời tiết nắng nóng làm giãn các mao mạch trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn xâm nhập gây nên hiện tượng viêm da (hay rôm sảy). Ngoài ra, những ngày oi nóng thường khiến trẻ tiết mồ hôi nhiều hơn, nếu không thoát hết sẽ ứ đọng trong các ống bài tiết trên da, khi bị bụi hay chất cặn bã bịt kín, cũng làm da nổi các nốt viêm.
 Trẻ nhỏ da rất mỏng manh và nhạy cảm nên dễ bị rôm sảy. Ở người lớn, lớp biểu bì dày hơn nên hiện tượng này ít đi. Rôm sảy thường mọc thành đừng đám và hay tập trung ở những vùng da có nhiều mồ hôi như lưng, ngực, trán, cổ…
Bài thuốc điều trị rôm sảy cho bé
Bài 1 :
Dùng 10g bột sắn dây, 30g rau má (tươi). Rau má rửa sạch, giã nát, thêm lượng nước sôi để nguội đủ dùng. Vắt lấy nước rau má, bỏ bã, hòa với bột sắn dây, cho đường vừa khẩu bị, uống từng ngày.
Bài 2:
Dùng một lượng rau sam tươi đủ dùng, giã nát, vắt lấy nước, pha vào nước tắm cho trẻ. Hoặc dùng lá kinh giới vò nát, pha vào nước tắm cho trẻ rất tốt.
Bài 3:
Dùng 20g lá sài đất, 30g lá ngải cứu, 50g lá nhài. Tất cả rửa sạch, sắc kỹ lấy nước uống ngày 1 thang. Chia uống làm 2 – 3 lần trong ngày. Uống liên tục 3 – 5 ngày sẽ đỡ.Dùng 4 – 6g hoa kim ngân hoặc 10 – 12g cành, lá kim ngân rửa sạch sắc uống ngày một thang. Không những trị được rôm sảy mà còn chữa được chứng lên đậu, lên sởi, mụn nhọt đau nhức.
Bài 4:
Dùng 60g rễ cây hẹ rửa sạch, sắc uống ngày 1 thang.Lấy một cây hành tươi rửa sạch, giã nát, trộn đều với chút giấm, sao lên rồi bôi vào nơi có rôm sảy rất tốt.
Bài 5:
Dùng 1 nắm rau má tươi, rửa sạch, giã nát, cho thêm một ít nước mưa (đã đun sôi để nguộ) rồi vắt lọc lấy nước, cho thêm đường, cho trẻ uống vào buổi sáng của mỗi ngày.
Bài 6:
Dùng lá kinh giới khô nấu sôi khoảng 10 phút rồi pha nước tắm cho trẻ. Hoặc dùng lá tươi vò nát, pha nước tắm. Hay dùng một hay hai trái khổ qua (mướp đắng) tươi giã nát hoặc nấu chín, cho vào túi vải sạch, lọc vắt lấy nước để tắm cho bé.
Cũng có thể kết hợp rau kinh giới và mướp đắng với nhau. Mướp đắng, rau kinh giới rửa sạch, thái nhỏ cho vào máy say sinh tố xay nhuyễn, lọc bỏ bã rồi pha với nước có nhiệt độ thích hợp để tắm cho bé. Liều lượng là 2 quả mướp, 2-3 mớ kinh giới/lần tắm.
Bài 7:
Rau sam vị chua, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Dùng khoảng một nắm rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước, pha tắm cho trẻ.
Ngoài ra, các mẹ cũng nên vắt khoảng 1/2 trái chanh vào nước ấm và tắm cho trẻ. Với những trẻ da bị trầy xước không nên tắm nước chanh vì làm cho trẻ dễ bị xót, rất khó chịu. Các mẹ có thể cho con tắm bằng nước lá vòi voi, sài đất, trà xanh hoặc lá khế cũng được.
Các bé bị rôm sảy chủ yếu là cơ thể nóng trong. Vì vậy, ngoài tắm bằng phương pháp này thì cần chú ý tăng cường bổ sung các loại hoa quả có nhiều vitamin C như cam, chanh… Nên uống nước giải khát thanh nhiệt như: rau má, nước chanh, nước chanh muối, mía lau, atisô…
Để thanh nhiệt cần cho trẻ ăn xen kẽ các loại cháo hoặc chè nấu bằng các loại đậu như đậu xanh nguyên vỏ, đậu đỏ, đậu đen, bột sắn dây… Không nên cho đường hoặc cho rất ít đường. Với trẻ ăm dặm có thể nghiền lá non và hoa thiên lý, quấy bột, nấu cháo cho trẻ rất tốt, rất mát, phòng rôm sảy.
Nếu đã thử nhiều cách mà tình hình rôm sảy ở trẻ vẫn không được cải thiện bạn nên đưa trẻ tới gặp bác sĩ để có những kết luận và xử trí kịp thời.
- Đảm bảo vệ sinh khi tắm nước lá cho bé. Kinh nghiệm dân gian đã cho ra đời nhiều bài thuốc từ thiên nhiên điều trị rôm sảy rất hữu hiệu cho bé. Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng các loại lá này phải rửa sạch, kỹ, ngâm qua nước muối hoặc thuốc tím trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm vì các loại lá này có thể chứa nhiều vi khuẩn gây hại, thậm chí không chết sau khi đun nấu. Chưa kể các loại lông tơ trên lá cũng dễ gây kích ứng da trẻ.
Tắm và vệ sinh bé hàng ngày là một trong những việc mẹ nên làm để bé luôn mát mẻ và tránh được tình trạng nổi rôm sẩy gây ngứa. (Ảnh minh họa).
Tắm và vệ sinh bé hàng ngày là một trong những việc mẹ nên làm để bé luôn mát mẻ và tránh được tình trạng nổi rôm sẩy gây ngứa. (Ảnh minh họa).
Đồng thời, tuy các loại lá này có thể làm mát hoặc cung cấp kháng sinh tự nhiên nhưng lại không hòa tan được chất nhờn trên da, vì vậy bé cần phải được tắm sạch bằng sữa tắm trước khi tráng nước lá. Sau khi tắm xong với nước lá, các mẹ cũng cần tắm sơ qua cho bé bằng nước ấm để rửa trôi lượng bột của lá có thể đọng trên da, gây nhiễm khuẩn.
- Chọn phấn rôm đảm bảo chất lượng. Việc bôi, chấm phấn rôm lên vùng da bị rôm sẩy sau khi tắm sẽ làm dịu cơn ngứa của bé, góp phần điều trị hiệu quả tình trạng rôm sẩy. Tuy nhiên, do trên thị trường có rất nhiều loại phấn rôm với thành phần, liều lượng, nhãn mác khác nhau, nên các mẹ cần cân nhắc chọn những sản phẩm tốt, có thương hiệu và uy tín rõ ràng để tránh gây “tác dụng ngược” cho bé như làm bé bị dị ứng, bị viêm da,v.v…
- Thoáng, mát là rất quan trọng với bé. Khi cùng bé phòng chống tình trạng rôm sẩy, các mẹ nên cố gắng tạo môi trường thông thoáng, mát mẻ cho bé. Ngoài việc chọn quần áo bằng chất liệu cotton thấm hút mồ hôi tốt; thường xuyên tắm cho bé; chườm lạnh hoặc dùng khăn lạnh lau người bé khoảng 4 – 5 lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 5 – 10 phút; tạo môi trường thoáng mát cho bé như sử dụng quạt, máy điều hòa với nhiệt độ thích hợp v.v…, các mẹ nên chú trọng đến việc chống nắng cho bé khi đi ra ngoài bằng mũ, nón rộng vành vì ánh nắng sẽ tạo điều kiện cho rôm sẩy phát triển hơn; cho bé uống nước đều đặn và dùng các loại nước mát khác như nước bột sắn dây, nước cam, chanh, rau má v.v….
Những việc mẹ không nên làm khi bé bị rôm sẩy
 - Không vắt nhiều chanh hay đun nước lá quá đặc. Việc vắt nhiều chanh vào nước tắm hay trực tiếp xát chanh lên da dễ khiến da bé bị kích ứng, tổn thương do hàm lượng axit quá cao. Nếu hòa chanh, muối vào nước tắm, không nên dùng quá nhiều mà cần phải để ý tỷ lệ hợp lý, vì nếu không sẽ gây xót và dễ làm kích ứng làn da non nớt của bé. Với việc nấu nước lá, các mẹ cũng không nên nấu quá đặc, vì lượng tinh bột của lá có thể đọng nhiều trên da, gây nhiễm khuẩn, viêm da, dị ứng cho bé.
- Không tắm nước lá khi da bé bị trầy xước, mưng mủ. Khi da đã trong tình trạng sưng đỏ, viêm da quá nặng do bé ngứa, gãi gây trầy xước, mất lớp màng bảo vệ, việc tắm nước lá dù đã qua đun nấu cũng có thể tăng nguy cơ vi khuẩn xâm nhập, làm tình trạng nhiễm trùng tăng lên, đôi khi gây những biến chứng không ngờ. Có những trẻ bị viêm nhiễm ở vùng gần hệ thần kinh, mạch máu như mặt, cổ, đầu, nếu mẹ vẫn cho tắm nước lá mà không được điều trị kịp thời có thể gây viêm tắc tĩnh mạch não và để lại di chứng suốt đời.
Thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu... trong những ngày hè nóng nực làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.(ảnh minh họa)
Thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu… trong những ngày hè nóng nực làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.(ảnh minh họa)
-Không tắm sữa tắm người lớn hay massage cho bé. Sữa tắm người lớn vốn chứa độ kiềm cao dễ làm cho da bé bị khô, vì vậy càng làm tăng tình trạng nhiễm trùng, rôm sẩy trên da của bé. Trong khi đó, không ít mẹ lại có thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu. Tuy nhiên, trong những ngày hè nóng nực, dùng các loại tinh dầu này chỉ làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.
- Không tự ý bôi thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Nếu tình trạng bé bị mẩn ngứa nhiều, có các mụn đầu trắng trên da, rôm sẩy dày đặc, đỏ, kéo dài …, các mẹ nên đưa bé đến các chuyên khoa da liễu để khám và điều trị. Tuyệt đối không tự mua thuốc bôi hoặc giữ con lại ở nhà tự chữa, vì có thể làm bệnh nặng thêm, chưa kể các biến chứng có thể gây ra cho bé.
Bên cạnh đó, để phòng tránh rôm sảy cho trẻ trong mùa hè các mẹ không nên nên ủ bé quá kỹ hay mặc quá nhiều quần áo cho bé. Luôn giữ cho da bé được khô ráo và sạch sẽ. Nên chọn quần áo cho trẻ được thiết kế bằng những chất liệu mát mẻ và thấm hút tốt. Không nên thoa quá nhiều kem hay phấn lên da trẻ.
Ngoài ra, bạn cần hạn chế để trẻ đi ra nắng, cần tắm nước mát, uống đủ nước. Tránh làm trầy xước các vết rôm sảy, bởi lẽ khi bị trầy xước da, dễ dẫn đến nhiễm trùng da.
Theo bác sĩ Thanh Nho, với những trường hợp rôm sảy thông thường, chỉ cần tắm cho trẻ hằng ngày để da sạch sẽ. Có thể theo kinh nghiệm dân gian, dùng các loại cây, quả có tính mát như mướp đắng, kinh giới, sài đất, chanh… để tắm cho trẻ cũng có tác dụng tốt. Tuy nhiên, khi sử dụng các loại lá này cần phải rửa sạch kỹ trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm. Chọn loại phấn rôm chất lượng tốt chấm lên những vùng da bị rôm sảy sau khi tắm cho con cũng là một cách hạn chế tình trạng này.
Theo GDVN

Tổng hợp các mẹo dân gian trị rôm sảy cho bé mùa hè

Rôm sảy là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong những ngày nắng nóng. Nếu không điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến nhiễm trùng da. Để phòng tránh bệnh này cho bé, bạn có thể tham khảo một vài kinh nghiệm thực tế được nhiều mẹ áp dụng.


Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Nho, Khoa da liễu, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô cho biết: Thời tiết nắng nóng làm giãn các mao mạch trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn xâm nhập gây nên hiện tượng viêm da (hay rôm sảy). Ngoài ra, những ngày oi nóng thường khiến trẻ tiết mồ hôi nhiều hơn, nếu không thoát hết sẽ ứ đọng trong các ống bài tiết trên da, khi bị bụi hay chất cặn bã bịt kín, cũng làm da nổi các nốt viêm.
 Trẻ nhỏ da rất mỏng manh và nhạy cảm nên dễ bị rôm sảy. Ở người lớn, lớp biểu bì dày hơn nên hiện tượng này ít đi. Rôm sảy thường mọc thành đừng đám và hay tập trung ở những vùng da có nhiều mồ hôi như lưng, ngực, trán, cổ…
Bài thuốc điều trị rôm sảy cho bé
Bài 1 :
Dùng 10g bột sắn dây, 30g rau má (tươi). Rau má rửa sạch, giã nát, thêm lượng nước sôi để nguội đủ dùng. Vắt lấy nước rau má, bỏ bã, hòa với bột sắn dây, cho đường vừa khẩu bị, uống từng ngày.
Bài 2:
Dùng một lượng rau sam tươi đủ dùng, giã nát, vắt lấy nước, pha vào nước tắm cho trẻ. Hoặc dùng lá kinh giới vò nát, pha vào nước tắm cho trẻ rất tốt.
Bài 3:
Dùng 20g lá sài đất, 30g lá ngải cứu, 50g lá nhài. Tất cả rửa sạch, sắc kỹ lấy nước uống ngày 1 thang. Chia uống làm 2 – 3 lần trong ngày. Uống liên tục 3 – 5 ngày sẽ đỡ.Dùng 4 – 6g hoa kim ngân hoặc 10 – 12g cành, lá kim ngân rửa sạch sắc uống ngày một thang. Không những trị được rôm sảy mà còn chữa được chứng lên đậu, lên sởi, mụn nhọt đau nhức.
Bài 4:
Dùng 60g rễ cây hẹ rửa sạch, sắc uống ngày 1 thang.Lấy một cây hành tươi rửa sạch, giã nát, trộn đều với chút giấm, sao lên rồi bôi vào nơi có rôm sảy rất tốt.
Bài 5:
Dùng 1 nắm rau má tươi, rửa sạch, giã nát, cho thêm một ít nước mưa (đã đun sôi để nguộ) rồi vắt lọc lấy nước, cho thêm đường, cho trẻ uống vào buổi sáng của mỗi ngày.
Bài 6:
Dùng lá kinh giới khô nấu sôi khoảng 10 phút rồi pha nước tắm cho trẻ. Hoặc dùng lá tươi vò nát, pha nước tắm. Hay dùng một hay hai trái khổ qua (mướp đắng) tươi giã nát hoặc nấu chín, cho vào túi vải sạch, lọc vắt lấy nước để tắm cho bé.
Cũng có thể kết hợp rau kinh giới và mướp đắng với nhau. Mướp đắng, rau kinh giới rửa sạch, thái nhỏ cho vào máy say sinh tố xay nhuyễn, lọc bỏ bã rồi pha với nước có nhiệt độ thích hợp để tắm cho bé. Liều lượng là 2 quả mướp, 2-3 mớ kinh giới/lần tắm.
Bài 7:
Rau sam vị chua, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Dùng khoảng một nắm rau sam tươi giã nát, vắt lấy nước, pha tắm cho trẻ.
Ngoài ra, các mẹ cũng nên vắt khoảng 1/2 trái chanh vào nước ấm và tắm cho trẻ. Với những trẻ da bị trầy xước không nên tắm nước chanh vì làm cho trẻ dễ bị xót, rất khó chịu. Các mẹ có thể cho con tắm bằng nước lá vòi voi, sài đất, trà xanh hoặc lá khế cũng được.
Các bé bị rôm sảy chủ yếu là cơ thể nóng trong. Vì vậy, ngoài tắm bằng phương pháp này thì cần chú ý tăng cường bổ sung các loại hoa quả có nhiều vitamin C như cam, chanh… Nên uống nước giải khát thanh nhiệt như: rau má, nước chanh, nước chanh muối, mía lau, atisô…
Để thanh nhiệt cần cho trẻ ăn xen kẽ các loại cháo hoặc chè nấu bằng các loại đậu như đậu xanh nguyên vỏ, đậu đỏ, đậu đen, bột sắn dây… Không nên cho đường hoặc cho rất ít đường. Với trẻ ăm dặm có thể nghiền lá non và hoa thiên lý, quấy bột, nấu cháo cho trẻ rất tốt, rất mát, phòng rôm sảy.
Nếu đã thử nhiều cách mà tình hình rôm sảy ở trẻ vẫn không được cải thiện bạn nên đưa trẻ tới gặp bác sĩ để có những kết luận và xử trí kịp thời.
- Đảm bảo vệ sinh khi tắm nước lá cho bé. Kinh nghiệm dân gian đã cho ra đời nhiều bài thuốc từ thiên nhiên điều trị rôm sảy rất hữu hiệu cho bé. Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng các loại lá này phải rửa sạch, kỹ, ngâm qua nước muối hoặc thuốc tím trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm vì các loại lá này có thể chứa nhiều vi khuẩn gây hại, thậm chí không chết sau khi đun nấu. Chưa kể các loại lông tơ trên lá cũng dễ gây kích ứng da trẻ.
Tắm và vệ sinh bé hàng ngày là một trong những việc mẹ nên làm để bé luôn mát mẻ và tránh được tình trạng nổi rôm sẩy gây ngứa. (Ảnh minh họa).
Tắm và vệ sinh bé hàng ngày là một trong những việc mẹ nên làm để bé luôn mát mẻ và tránh được tình trạng nổi rôm sẩy gây ngứa. (Ảnh minh họa).
Đồng thời, tuy các loại lá này có thể làm mát hoặc cung cấp kháng sinh tự nhiên nhưng lại không hòa tan được chất nhờn trên da, vì vậy bé cần phải được tắm sạch bằng sữa tắm trước khi tráng nước lá. Sau khi tắm xong với nước lá, các mẹ cũng cần tắm sơ qua cho bé bằng nước ấm để rửa trôi lượng bột của lá có thể đọng trên da, gây nhiễm khuẩn.
- Chọn phấn rôm đảm bảo chất lượng. Việc bôi, chấm phấn rôm lên vùng da bị rôm sẩy sau khi tắm sẽ làm dịu cơn ngứa của bé, góp phần điều trị hiệu quả tình trạng rôm sẩy. Tuy nhiên, do trên thị trường có rất nhiều loại phấn rôm với thành phần, liều lượng, nhãn mác khác nhau, nên các mẹ cần cân nhắc chọn những sản phẩm tốt, có thương hiệu và uy tín rõ ràng để tránh gây “tác dụng ngược” cho bé như làm bé bị dị ứng, bị viêm da,v.v…
- Thoáng, mát là rất quan trọng với bé. Khi cùng bé phòng chống tình trạng rôm sẩy, các mẹ nên cố gắng tạo môi trường thông thoáng, mát mẻ cho bé. Ngoài việc chọn quần áo bằng chất liệu cotton thấm hút mồ hôi tốt; thường xuyên tắm cho bé; chườm lạnh hoặc dùng khăn lạnh lau người bé khoảng 4 – 5 lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 5 – 10 phút; tạo môi trường thoáng mát cho bé như sử dụng quạt, máy điều hòa với nhiệt độ thích hợp v.v…, các mẹ nên chú trọng đến việc chống nắng cho bé khi đi ra ngoài bằng mũ, nón rộng vành vì ánh nắng sẽ tạo điều kiện cho rôm sẩy phát triển hơn; cho bé uống nước đều đặn và dùng các loại nước mát khác như nước bột sắn dây, nước cam, chanh, rau má v.v….
Những việc mẹ không nên làm khi bé bị rôm sẩy
 - Không vắt nhiều chanh hay đun nước lá quá đặc. Việc vắt nhiều chanh vào nước tắm hay trực tiếp xát chanh lên da dễ khiến da bé bị kích ứng, tổn thương do hàm lượng axit quá cao. Nếu hòa chanh, muối vào nước tắm, không nên dùng quá nhiều mà cần phải để ý tỷ lệ hợp lý, vì nếu không sẽ gây xót và dễ làm kích ứng làn da non nớt của bé. Với việc nấu nước lá, các mẹ cũng không nên nấu quá đặc, vì lượng tinh bột của lá có thể đọng nhiều trên da, gây nhiễm khuẩn, viêm da, dị ứng cho bé.
- Không tắm nước lá khi da bé bị trầy xước, mưng mủ. Khi da đã trong tình trạng sưng đỏ, viêm da quá nặng do bé ngứa, gãi gây trầy xước, mất lớp màng bảo vệ, việc tắm nước lá dù đã qua đun nấu cũng có thể tăng nguy cơ vi khuẩn xâm nhập, làm tình trạng nhiễm trùng tăng lên, đôi khi gây những biến chứng không ngờ. Có những trẻ bị viêm nhiễm ở vùng gần hệ thần kinh, mạch máu như mặt, cổ, đầu, nếu mẹ vẫn cho tắm nước lá mà không được điều trị kịp thời có thể gây viêm tắc tĩnh mạch não và để lại di chứng suốt đời.
Thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu... trong những ngày hè nóng nực làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.(ảnh minh họa)
Thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu… trong những ngày hè nóng nực làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.(ảnh minh họa)
-Không tắm sữa tắm người lớn hay massage cho bé. Sữa tắm người lớn vốn chứa độ kiềm cao dễ làm cho da bé bị khô, vì vậy càng làm tăng tình trạng nhiễm trùng, rôm sẩy trên da của bé. Trong khi đó, không ít mẹ lại có thói quen massage cho bé bằng tinh dầu dừa, tinh dầu oliu. Tuy nhiên, trong những ngày hè nóng nực, dùng các loại tinh dầu này chỉ làm tăng thêm tình trạng khó chịu, gây chàm hay mọc rôm sẩy ở bé.
- Không tự ý bôi thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Nếu tình trạng bé bị mẩn ngứa nhiều, có các mụn đầu trắng trên da, rôm sẩy dày đặc, đỏ, kéo dài …, các mẹ nên đưa bé đến các chuyên khoa da liễu để khám và điều trị. Tuyệt đối không tự mua thuốc bôi hoặc giữ con lại ở nhà tự chữa, vì có thể làm bệnh nặng thêm, chưa kể các biến chứng có thể gây ra cho bé.
Bên cạnh đó, để phòng tránh rôm sảy cho trẻ trong mùa hè các mẹ không nên nên ủ bé quá kỹ hay mặc quá nhiều quần áo cho bé. Luôn giữ cho da bé được khô ráo và sạch sẽ. Nên chọn quần áo cho trẻ được thiết kế bằng những chất liệu mát mẻ và thấm hút tốt. Không nên thoa quá nhiều kem hay phấn lên da trẻ.
Ngoài ra, bạn cần hạn chế để trẻ đi ra nắng, cần tắm nước mát, uống đủ nước. Tránh làm trầy xước các vết rôm sảy, bởi lẽ khi bị trầy xước da, dễ dẫn đến nhiễm trùng da.
Theo bác sĩ Thanh Nho, với những trường hợp rôm sảy thông thường, chỉ cần tắm cho trẻ hằng ngày để da sạch sẽ. Có thể theo kinh nghiệm dân gian, dùng các loại cây, quả có tính mát như mướp đắng, kinh giới, sài đất, chanh… để tắm cho trẻ cũng có tác dụng tốt. Tuy nhiên, khi sử dụng các loại lá này cần phải rửa sạch kỹ trước khi nghiền, lọc hay đun nước tắm. Chọn loại phấn rôm chất lượng tốt chấm lên những vùng da bị rôm sảy sau khi tắm cho con cũng là một cách hạn chế tình trạng này.
Theo GDVN
Đọc thêm..
Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:
 1. Bé dưới một tuổi


Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.
2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.
3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.
4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.
5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.
6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé
 7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.

7 điều phải tránh khi cho bé ăn trứng gà

Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:
 1. Bé dưới một tuổi


Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.
2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.
3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.
4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.
5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.
6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé
 7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.
Đọc thêm..